Giá vàng lình xình, Euro/USD giằng co 11:15 20/05/2011

Giá vàng trong nước sáng nay tiếp tục xoay quanh ngưỡng 37,4 triệu đồng/lượng, sau khi giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch tại New York. Giá dầu thô cũng giảm trở lại, giao dịch trên mức 99 USD/thùng.

Lúc gần 10h sáng, vàng miếng các thương hiệu được báo giá dưới mức 37,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. So với cuối giờ chiều qua, giá vàng tăng khoảng 20.000-30.000 đồng mỗi lượng, nhưng nếu so với sáng qua, giá vàng đã giảm chừng 50.000 đồng/lượng. Giá vàng hôm qua tiếp tục biến động theo kiểu “sáng tăng, chiều giảm”, giá cuối ngày thấp hơn đầu ngày đến 70.000-80.000 đồng/lượng dù giá thế giới ít biến động.

Giá vàng SJC do Công ty Phú Quý tại thị trường Hà Nội niêm yết lúc 9h55 là 37,29 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,39 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SBJ do Công ty Sacombank-SBJ công bố cùng thời điểm là 37,29 triệu đồng/lượng và 37,37 triệu đồng/lượng.

Vàng “nội” đã lình xình ở vùng giá quanh 37,4 triệu đồng/lượng suốt cả tuần nay. Giao dịch diễn ra chậm, tỷ giá USD/VND lại ổn định khiến giá vàng khó có những thay đổi lớn. Đồng thời, xu thế giảm trong ngắn hạn của giá vàng quốc tế là một nhân tố quan trọng giữ chân giá vàng trong nước.

Trên thị trường ngoại hối, một số ngân hàng sáng nay điều chỉnh giảm tỷ giá USD niêm yết. Vietcombank giảm giá bán USD còn 20.800 đồng, từ mức 20.850 đồng của ngày hôm qua. Tuy nhiên, giá thu mua USD được ngân hàng này giữ ở mức 21.700 đồng.

Giá vàng quốc tế đêm qua và sáng nay biến động yếu, tuy nhiên giảm vẫn là xu hướng chính. Chốt phiên tại New York, giá vàng giao ngay mất 3,1 USD/oz, còn 1.494,8 USD/oz. Lúc 10h40 sáng nay giờ Việt Nam, vàng giao dịch gần mức 1.497 USD/oz tại châu Á, tăng nhẹ so với mức chốt trên.

So với giá vàng bán lẻ trong nước, giá vàng thế giới quy đổi đang cao hơn khoảng 150.000 đồng/lượng.

Cặp tỷ giá Euro/USD vẫn đang ở thế giằng co. Đồng Euro chịu áp lực giảm giá do những khó khăn về nợ công của châu Âu, trong khi USD cũng ở thế bất lợi khi những số liệu thống kê gần đây cho thấy nền kinh tế Mỹ còn nhiều thách thức. Tại Tokyo sáng nay, 1 Euro đổi 1,43 USD.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 6 tại New York chốt phiên hôm qua ở mức 98,44 USD/thùng, thấp hơn 1,66 USD/thùng so với phiên trước. Dầu giảm giá do những thông tin kém lạc quan về kinh tế Mỹ. Sáng nay, giá dầu phục hồi nhẹ và giao dịch quanh ngưỡng 99 USD/thùng.

Theo số liệu của Mỹ công bố hôm qua, số người xin trợ cấp thất nghiệp ở nước này tuần qua đã giảm, nhưng vẫn ở mức trên 400.000 người tuần thứ 6 liên tiếp, làm dấy lên những lo ngại về thị trường việc làm. Doanh số nhà bán đã qua sử dụng trong tháng 4 của nước này cũng đi xuống, sản xuất công nghiệp ở một số khu vực tăng chậm hơn dự báo.

Bên cạnh đó, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết, họ có thể đề nghị các quốc gia thành viên mở kho dự trữ dầu trong trường hợp Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) không thể hạ nhiệt giá dầu. IEA lo ngại, mức giá dầu 100 USD/thùng có thể đe dọa tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Theo nhận định của giới chuyên môn, với tình hình kinh tế hiện nay, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ còn duy trì mức lãi suất thấp kỷ lục thêm một thời gian nữa, tạo cơ sở khiến USD giảm giá và làm lợi cho giá hàng hóa cơ bản, trong đó có vàng và dầu.

Lúc này, vàng đang được hỗ trợ ít nhiều khi giới đầu tư tăng mua ở vùng giá dưới 1.500 USD/oz. Theo nhận định mà Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) mới đưa ra, vàng vẫn là kênh đầu tư quan trọng trong bối cảnh khủng hoảng nợ công chưa buông tha châu Âu và lạm phát tăng cao tại nhiều khu vực trên thế giới.
 
Mặc dù vậy, một số quỹ đầu tư vàng lớn đang bán vàng ra. Quỹ SPDR Gold Trust vừa bán ra 1 tấn vàng, giảm lượng nắm giữ về 1.191,3 tấn.

Các chuyên gia của Sacombank-SBJ cho rằng, mức cản tâm lý quan trọng mà giá dầu cần vượt qua ở thời điểm này là mốc 100 USD/thùng, trong khi vàng cần vượt qua mức 1.500 USD/oz để tiến xa hơn.

Tin Mới

Các Tin Khác

Giá vàng hôm nay

Mua vào Bán ra
Vàng SJC 36,650 36,830

Tỷ giá

Ngoại Tệ Mua vào Bán Ra

  USD

22,8550 22,9250

  AUD

16,6540 16,9380

  CAD

16,9430 17,2840

  CHF

22,6600 23,1150

  EUR

26,1750 26,4880

  GBP

29,6690 30,1440

  JPY

2040 2090
Commodities ($USD)
Crude Oil 66.22 +1.74%
Natural Gas 2.96 +2.16%
Gasoline 2.02 -0.71%
Heating Oil 2.11 -0.70%
Gold 1271.20 -0.35%
Silver 16.29 -0.09%
Copper 3.05 -